Phân biệt giữa Chùa, Đình, Đền, Phủ, Miếu, Quán

      Trong đời sống văn hóa tâm linh của người Việt Nam có rất nhiều nơi thờ cúng khác nhau như Chùa, Đình, Đền, Phủ, Miếu, … Nhưng không phải ai cũng hiểu được ý nghĩa của những địa điểm thờ cúng đó. Cho nên có rất nhiều người đi chùa mà không hiểu được ý nghĩa của việc đi chùa, ở gần nhà có cái đình mà cũng không hiểu vì sao cái đình lại “mọc” lên ở đó,… Vì vậy, qua bài viết này để giúp bạn đọc dễ dàng phân biệt được các địa điểm thờ cúng khác nhau, hiểu được ý nghĩa của việc thờ cúng và những nhân vật được thờ cúng trong đó. Dưới đây sẽ chú giải cụ thể về từng khái niệm.
1- Chùa:
        Chùa là cơ sở hoạt động và truyền bá Phật giáo, là nơi tập trung sinh hoạt, tu hành và thuyết giảng đạo Phật của các nhà sư, tăng, ni. Mọi người kể cả tín đồ hay người không theo đạo đều có thể đến thăm viếng, chiêm bái, vãn cảnh, nghe giảng kinh hay thực hành các nghi lễ Phật giáo. Ở một số nơi, chùa cũng là nơi cất giữ xá lị và chôn cất các vị đại sư. 
2- Đình:
       Đình là nơi thờ Thành hoàng của các làng, đồng thời là nơi hội họp, bàn việc của dân làng. Đình được coi là trung tâm sinh hoạt văn hóa gắn bó với một cộng đồng cư dân và mang đặc trưng của nền văn minh lúa nước Việt Nam.  Thành hoàng là người có công với dân, với nước, lập làng, dựng ấp hay sáng lập nên một nghề (ông tổ của nghề). Dưới các triều vua thường có sắc phong cho Thành hoàng, vì hầu hết Thành hoàng đều có công với nước. Dân làng, hay phường hội đi lập nghiệp nơi khác cũng xây miếu, đền thờ Thành hoàng quê gốc của mình tại nơi ở mới. 
3- Đền:
    Đền là công trình kiến trúc được xây dựng để thờ cúng một vị Thánh hoặc những nhân vật lịch sử được tôn sùng như thần thánh. Ở Việt Nam, phổ biến nhất là các đền thờ được xây dựng để ghi nhớ công ơn của các anh hùng có công với đất nước hay công đức của một cá nhân với địa phương được dựng theo truyền thuyết dân gian.  Các đền nổi tiếng có thể kể đến ở nước ta như Đền Hùng, đền Kiếp Bạc, đền Sóc, đền Trần… thờ các anh hùng dân tộc. Đền Voi Phục, đền Bạch Mã, đền Kim Liên, đền Quán Thánh… thờ các vị thánh theo truyền thuyết dân gian. 
4- Miếu:
    Miếu là một dạng di tích văn hóa trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam có quy mô nhỏ hơn đền. Đối tượng được thờ ở miếu rất đa dạng, thể hiện ở tên gọi của miếu – tên gọi theo đối tượng được thờ thường phiếm chỉ và tượng trưng. Ví dụ: miếu Cô, miếu Cậu, miếu thờ thần núi gọi chung là miếu Sơn thần, miếu thờ thần nước gọi là miếu Hà Bá hoặc miếu Thủy thần. Miếu thờ thần đất gọi là miếu thổ thần hoặc thần Hậu thổ. Miếu thường được xây trên gò cao, nơi sườn núi, bờ sông hoặc đầu làng, cuối làng, những nơi yên tĩnh để quỷ thần có thể an vị, không bị mọi sự ồn ào của đời sống dân sinh. Ở một số nơi, trong các ngày giỗ thần như ngày sinh, ngày hóa (nhân thần), ngày hiện hóa (thiên thần) làng mở tế lễ, mở hội, nghinh rước thần từ miếu về đình. Tế lễ xong, lại rước thần về miếu yên vị. Miếu nhỏ còn được gọi là Miễu (cách gọi của người miền Nam
5- Nghè:
     Một hình thức của đền miếu, thờ thần thánh. Đây là kiến trúc thường có mối quan hệ chặt chẽ với một di tích trung tâm nào đó. Nghè có khi thờ thành hoàng làng ở làng nhỏ, được tách ra từ làng gốc như Nghè Hải Triều (Cẩm Giàng – Hải Dương). Nghè cũng có thể là một ngôi đền nhỏ của một thần trong xã nhằm thích ứng với dân sở tại để tiện việc sinh hoạt tâm linh khi ngôi đền chính khó đáp ứng được nhu cầu thờ cúng thường nhật, như Nghè ở Trường Yên là một kiến trúc phụ của đền vua Đinh. Hiện ngôi nghè cổ nhất được tìm thấy từ thế kỷ XVII. 
6- Điện thờ:
     Điện là sảnh đường cao lớn, thường chỉ chỗ Vua Chúa ở, chỗ Thần Thánh ngự. Như vậy Điện thờ là một hình thức của Đền, là nơi thờ Thánh trong tín ngưỡng Tam tứ phủ. Tuy vậy quy mô của Điện nhỏ hơn Đền và Phủ, lớn hơn so với Miếu Thờ. Điện thông thường thờ Phật, thờ Mẫu, Công đồng Tam tứ phủ, Trần Triều và các vị thần nổi tiếng khác. Điện có thể của cộng đồng hoặc tư nhân. Trên bàn thờ thường có ngai, bài vị, khám, tượng chư vị thánh thần và các đồ thờ khác: tam sơn, bát hương, cây nến, đài, lọ hoa, vàng mã,… 
7- Phủ:
     Phủ là đặc trưng của tín ngưỡng thờ Mẫu (tín ngưỡng bản địa của người Việt Nam). Một số nơi thờ tự (ở Thanh Hóa) gọi đền là phủ. Có thể hiểu Phủ là nơi thờ tự Thánh Mẫu khá sầm uất, mang tính chất trung tâm của cả một vùng lớn, vượt ra ngoài phạm vi địa phương, thu hút tín đồ khắp nơi đến hành hương (tương tự như chốn Tổ của sơn môn đạo Phật). Ngôi phủ sớm nhất còn lại hiện biết là điện thờ các thần vũ nhân ở chùa Bút Tháp, có niên đại vào giữa thế kỷ XVII. 
8- Quán:
     Quán là một dạng đền gắn với đạo Lão (Đạo giáo). Vào các thế kỷ XI và XIV đạo Lão ở Việt nặng xu hướng thần tiên nên điện thờ thực chất giống như một đền thờ thần thánh. Sang tới thế kỷ XVI và XVII, sự khủng hoảng của Nho giáo đã đẩy một số nhà Nho và một bộ phận dân chúng quan tâm nhiều tới Lão giáo, và điện thờ đạo Lão có nhiều sự phát triển mới, với việc thờ cúng các thần linh cơ bản theo Trung Hoa. Đó là Tam thanh (Nguyên Thủy Thiên Tôn, Linh Bảo Đạo Quân, Thái Thượng Lão Quân), Ngũ Nhạc mà nổi lên với Đông Phương Sóc và Tây Vương Mẫu, rồi Thánh Phụ, Thánh Mẫu. Cửu Diệu Tinh Quân (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, Mặt Trời, Mặt Trăng, Hồ phủ, Kế đô) đồng thời trên chính điện cũng có cả tượng của Hoàng Quân giáo chủ (Ngọc Hoàng). Có thể kể tới các quán điển hình như: Hưng Thánh Quán, Lâm Dương Quán, Hội Linh Quán, Linh Tiên Quán… đều ở Hà Tây cũ (nay là Hà Nội). “Thăng Long Tứ quán” bao gồm: Chân Vũ quán (tức đền Quán Thánh ở phố Quán Thánh); Huyền Thiên cổ quán (nay là chùa Quán Huyền Thiên ở phố Hàng Khoai); Đồng Thiên quán (nay là chùa Kim Cổ ở phố Đường Thành); Đế Thích quán (nay là chùa Vua ở phố Thịnh Yên). 
9- Am:
     Hiện được coi là một kiến trúc nhỏ thờ Phật. Gốc của Am từ Trung Quốc, được mô tả như ngôi nhà nhỏ, lợp lá, dùng làm nơi ở của con cái chịu tang cha mẹ, về sau đổi kết cấu với mái tròn, lợp lá, làm nơi ở và nơi đọc sách của văn nhân. Từ đời Đường, Am là nơi tu hành và thờ Phật của ni cô đặt trong vườn tư gia. Với người Việt, Am là nơi thờ Phật (Hương Hải am tức Chùa Thầy, Thọ Am tức Chùa Đậu – Hà Tây…) cũng có khi am là ngôi miếu nhỏ thờ thần linh của xóm làng – Vào thế kỷ XV (thời Lê sơ) là nơi ở tĩnh mịch để đọc sách làm thơ của văn nhân. Miếu thờ thần linh ở các làng hoặc miếu cô hồn ở bãi tha ma cũng gọi là Am.

PHỤC NGUYỆN

hình zingplay
PHỤC NGUYỆN 1
Phụng  vị:
Các bậc tổ tiên ông bà cha mẹ quá cố trong bảy đời qua.
Cùng với thân nhân quyến thuộc, hàng trăm ngàn chiến sĩ trận vong trên mọi nẻo đường đất nước, hài cốt chôn vùi chưa biết phải tìm đâu.
Hàng triệu đồng bào nạn nhân của đạn bom hoặc không may đã bỏ mình trên bước đường chiến tranh lánh nạn.
Tất cả những ai đã phải chết dần mòn trong các nơi giam hãm.
Tất cả những thuyền nhân thiệt mạng làm mồi cho rồng cá hoặc trở thành nạn nhân của hải tặc sau khi đã lênh đênh trên biển cả lâu ngày.
Cùng tất cả các oan hồn uổng tử khắp nơi, không phân biệt già trẻ, gái trai, bắc nam, chủng tộc, tôn giáo và chánh kiến.
Nguyện nhờ ơn đức Phật, Pháp và Tăng, nương tựa chân ngôn. Giờ phút này đây trở về phó hội tham dự đàn chay,  nghe kinh chuyển hóa hưởng nguồn Cam lộ.

*************************
PHỤC NGUYỆN 2

Hồn siêu nơi cõi Tịnh
Nghiệp dứt chốn trần ai
Hoa sen chín phẩm vừa khai
Phật bèn thọ ký cho ngay nhứt thừa
Cầu xin chư Phật tiếp đưa
Hồn về Cực Lạc say sưa Pháp mầu
Nguyện cho hương linh...
Sớm về cõi Phật
Hưởng cảnh thanh bình
Pháp giới chúng sinh
Trọn thành Phật quả.

PHỤC NGUYỆN 3
Phục nguyện: Tam Bảo chứng minh, oai thần hộ niệm, Bồ Tát, Thanh Văn, Phạm Vương, Đế Thích, Tứ Thiên Vương, chúng Thiên Long, Bát bộ, Hộ Pháp thần vương, nhứt thiết thiện thần, thùy từ ủng hộ. Đệ tử ..... cập nhứt thiết chúng sanh, tiêu trừ nghiệp chướng, tà ma ngoại đạo, yêu quái ác tinh, ly mị vọng lượng, tật bịnh tội khiên, tai nạn quạnh ương, nhứt thiết ác duyên, tất giai tiêu diệt.

Phổ nguyện: tứ thời an lạc, sở trụ phong nhiêu, phước huệ tăng long, tùy tâm mãn nguyện. Âm siêu dương thới, pháp giới chúng sanh, tình dữ vô tình, đồng thành Phật đạo.

PHỤC NGUYỆN 4
Phục-nguyện: Quan Âm thị hiện, thuyết pháp độ sanh; lâm nạn xưng danh, tầm thanh cứu khổ. Hiện tiền đệ tử chúng đẳng, dị khẩu đồng âm, phúng tụng Đại thừa bối diệp tôn kinh, hồi tư thắng phước :
Sở-kỳ, bổn mạng ngươn thần Phật tử ....... pháp danh: .........., tuổi: ............,
Trượng Từ quang nhiếp hộ, tinh thần minh tịnh, tâm thể an nhiên; tứ đại điều hòa, phước-duyên cộng-tụ.
Hựu-nguyện: Phật-tử, nghiệp chướng tiêu trừ, bịnh căn thuyên giảm, đắc cam lồ pháp vị, thọ linh dược thanh lương. Tự tại khinh an, viễn ly khổ ách.
Phổ-nguyện : Tâm dung pháp hóa, tánh ngộ chơn thường, bất nhiễm trần lao, thường hành Phật sự. Bồ đề quả mãn, tánh đức viên dung, tự lợi lợi-tha, chứng vô thượng đạo. Âm-siêu dương-thới, pháp-giới chúng sanh, tề thành Phật-đạo.

PHỤC NGUYỆN 5
Tư thời, Việt Nam quốc, kim cư Mỹ quốc, tiểu bang ......., thành phố ...............
Cung tựu: (chùa,viện) .........hoặc tư gia: (tên gia chủ) phụng Phật tu hương phúng kinh cầu siêu độ sự.
Kim hương-linh, thọ Ưu-bà tắc (Ưu bà di) giới, tánh (họ & tên): ........, pháp danh: ........, sanh:......, thọ:...., mãn phần:...... (ngày/tháng/năm), trượng thừa Tam Bảo lực, cập Bồ tát Thánh Tăng từ bi gia hộ, giác tánh thường minh, tâm quang phổ chiếu. Ngộ thế thái vô thường, liễu chơn linh bất diệt, tín căn an trụ, đạo-quả viên thành, Lạc quốc hoa khai, chứng vô sanh nhẫn.
Phổ nguyện: Tang gia quyến chủ, hiếu sự châu viên, chánh pháp phụng thừa, phước duyên sung mãn; thân tâm an-lạc, tứ đại bình hòa; trí đức viên dung, nhứt thừa liễu ngộ.
Âm siêu dương thới, pháp giới chúng sanh, tề thành Phật-đạo.




NHỮNG CÂU THÁN-VỊNH

hình zingplay
Đường về cõi Phật rộng bao la
Con nguyện cầu xin đức Phật đà
Chỉ lối cho con tầm ánh đạo
Tránh điều tục luỵ lắm phong ba.

Tử sanh là ải phải đi qua
Ði mãi nhưng ai đã đến nhà ?
Qua lại ba đường cùng sáu cõi
Muốn qua cần phải niệm A Di Ðà.

Mắt Thế Tôn đang nhìn xa muôn dặm
Lòng Thế Tôn như biển thẳm xanh màu
Tay hiền từ đốt đuốc giữa đêm thâu
Đưa chúng sanh đến bến bờ giải thoát

Đức Quán Âm tu hành nhiều kiếp
Với lời nguyền tha thiết độ sanh
Khắp muôn nơi tâm nguyện chí thành
Ngài ứng hiện muôn hình tế độ.
  
Ta tưởng Phật tâm ta là Phật
Gieo hạt giống Bồ đề xanh ngát mầm non
Một khi thân xác không còn
Nhờ lòng tu niệm vẫn còn phước duyên.

NGHI CÚNG LINH-ÁI HÀ


Âm:
Ái hà thiên xích lãng
Khổ hải vạn trùng ba
Dục thoát luân hồi khổ
Tảo cấp niệm Di Đà.

Dịch:
Sông ái ngàn sóng bủa
Biển khổ vạn trùng vây
Luân hồi mong vượt thoát
Mau sớm niệm Di Đà.

 HT. Thích Nhất Hạnh dịch:
Sông ái dài muôn dặm
Biển mê sóng vạn tầm
Cõi luân hồi muốn thoát
Niệm Phật hãy nhất tâm.


Ái hà lãng hượt
Khổ hải vi thâm
Dục đáo bồ đề chi bỉ ngạn
Tiêu trừ phiền não kiếp trùng lai
Nhược bất thính pháp văn kinh

Hà nãi siêu sinh thoát tử.
hình zingplay
Xem thêm : Thơ | Âm nhạc | Hình ảnh
Copyright © 2011. Hiểu Và Thương - All Rights Reserved
My blog Blogspot
Liên hệ : Email: hieuvathuongdalat@gmail.com